Sunday, 18/11/2018 - 15:35|
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆT TRÌ
A- A A+ | Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+

Nếu bạn đến thành cổ Quảng Trị

Nếu bạn đến Quảng Trị bạn hãy tới bảo tàng thành cổ Quảng Trị. Ở đó còn lưu giữ rất nhiều các di vật của bộ đội Việt Nam trong trận đánh thành cổ Quảng Trị lịch sử 1972. Trong đó có một bức thư mà đã làm cho rất nhiều người đến đây không cầm được nước mắt. Đó là bức thư của liệt sỹ Lê Văn Huỳnh sinh năm 1949, quê ở huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

Nếu bạn đến Quảng Trị bạn hãy tới bảo tàng thành cổ Quảng Trị. Ở đó còn lưu giữ rất nhiều các di vật của bộ đội Việt Nam trong trận đánh thành cổ Quảng Trị lịch sử 1972. Trong đó có một bức thư mà đã làm cho rất nhiều người đến đây không cầm được nước mắt. Đó là bức thư của liệt sỹ Lê Văn Huỳnh sinh năm 1949, quê ở huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

          Tôi chưa có dịp đến thành cổ Quảng trị nhưng tôi đã tìm được lá thư này trong cuốn sách “Những lá thư thời chiến Việt Nam” của tác giả Đặng Vương Hưng. Cuốn sách này đã ra mắt bạn đọc đúng vào dịp kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng Miền nam. Sách do nhà xuất bản Hội văn học ấn hành. Sau đây tôi xin giới thiệu bức thư của liệt sỹ Lê Văn Huỳnh để các bạn được biết:

          “ Quảng Trì ngày 11-9-1972.

          Toàn gia đình kính thương!

Hôm nay con ngồi đây biên vài dòng chữ cuối cùng phòng khi đã đi “Nghiên cứu bí mật trong lòng đất” thì gia đình khỏi thấy đó là đột ngột.

 

Mẹ kính mến! Lớn lên trong tay mẹ từ lúc còn trứng nước, chưa đền đáp được công lao to lớn đó của mẹ thì con đã phải đi thăm bố con rồi! Thư này tới tay mẹ, chắc mẹ buồn lắm! Lòng mang nặng đẻ đau! Lá vàng còn ở trên cây, lá xanh rụng xuống… Trời ơi! Con của mẹ đã đi xa, để lại cho mẹ một nỗi buồn nhất trên đời. Con rất hiểu, đời mẹ đã khổ nhiều, nay bao hy vọng nuôi con lớn khôn! Song vì đất nước có chiến tranh thì mẹ ơi hãy lau nước mắt, sống để chào đón ngày chiến thắng. Con đi mẹ ở lại, mẹ hãy coi con lúc nào cũng nằm bên mẹ. Mẹ đừng buồn cho linh hồn con được bay đi! Thôi nhé mẹ ơi! Mẹ đừng buồn coi như con đang sống trọn đời cho tổ quốc mai sau.

          Em yêu thương! Mọi lá thư đến với em đều là nguồn động viên lớn khi xa anh! Song lá thư này có lẽ là lá thư cuối cùng của anh!

Em ạ, chúng ta sống với nhau chẳng được là bao thì chiến tranh đã mang anh đi. Em đã là người vợ hiền và yêu thương anh nhiều lắm! Anh rất mong được sống mãi bên em. Song vì đất nước, em ơi hãy gạt nước mắt, háy sống khỏe và yêu đời.

Nếu thực sự yêu thương anh em hãy làm theo lời anh dặn: “Hàng năm cứ đến ngày này, em hãy thắp nén hương tưởng nhớ anh. Nếu có điều kiện em hãy đi bước nữa vì em còn trẻ lắm!”

Thôi nhé, anh biết em không thể đọc nổi lá thư này nhưng em hãy bình tĩnh nghe lời anh dặn: Em hãy đọc lá thư này cho gia đình và mọi người nghe trong buổi lễ truy điệu của anh! Anh gửi lời chúc sức khỏe tới tất cả mọi người trên quê hương. Nếu thương anh thì hòa bình hãy vào Nam lấy hài cốt anh về. Đường đi như sau: Đi tầu vào thị xã Quảng Trị, qua sông Thạch Hãn. Từ thị xã qua cầu ngược trở lại hỏi thăm về “Nhạn biển I”. Nếu tính xuôi theo dòng nước thì ở cuối làng. Về đây sẽ tìm thấy bia ghi dòng chữ tên anh đục trên mảnh tôn. Thôi nhé! Đó là có điều kiện còn không em cứ làm theo lời anh dặn là tốt lắm rồi!

          Thôi, chào tất cả gia đình và hàng xóm con đi đây!”.

                                                                             Con của gia đình

                                                                                    Huỳnh

Đó là bức thư của liệt sỹ Lê Văn Huỳnh gửi về cho gia đình vào tháng 9 năm 1975.

Tháng 5 năm 1972, Lê Văn Huỳnh tình nguyện khoắc ba lô vào chiến trường đúng lúc ở Quảng Trị diễn ra những ngày ác liệt nhất. Cuộc chiến tại thành cổ Quảng trị với 81 ngày đêm oanh liệt đầy bão lửa. Đã có gần một vạn chiến sĩ đã ngã xuống trong trận chiến thành cổ Quảng Trị này.

Đầu tháng 9 năm 1972 Lê Văn Huỳnh được lệnh qua sông Thạch Hãn. Anh hiểu rằng đó sẽ là một chuyến đi xa, rất xa. Anh bình thản tự làm một tấm tôn bia mộ cho mình. Trên đó có khắc đủ tên tuổi, năm sinh, quê quán rồi xé giấy từ cuốn sổ tay viết thư cho gia đình dặn dò kỹ lưỡng từng người một. Tình cảm bao trùm lên bức thư đó là sự khao khát được sống và tình yêu thương vô bờ bến dành cho những người thân trước giờ phút biệt ly.

          Điều khiến người đọc kinh ngạc là bức thư trên được Lê Văn Huỳnh viết ra bằng một sự tiên cảm kỳ lạ về cái chết của mình. Tất cả những gì anh viết trong thư trước khi hy sinh đều chính xác như lời một nhà tiên tri. Làm sao anh biết chắc bia mộ mình sẽ được đồng đội chôn cất đúng thôn Nhạn biển 1 trong khi mặt trận rộng lớn như thế! Để rồi hướng dẫn cụ thể cho vợ mình ngày thống nhất vào mang hài cốt về quê? Cuộc sống vốn kỳ diệu như thế! Có nhiều điều ta chưa thể giải thích được.

          Rồi vào năm 2002, anh trai liệt sĩ cùng vợ và những người đồi đội của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh đã đưa anh về yên nghỉ tại quê mẹ đúng như ước nguyện của anh. Nhưng còn một lời dặn của anh với người vợ trẻ lúc ấy mới 20 tuổi thì suốt đời chị không thực hiện đó là: Chị không đi bước nữa như lời anh dặn mà xuốt đời ở vậy thờ chồng.

          Sau khi tôi đọc bức thư của liệt sĩ Lê Văn huỳnh, tôi vô cùng xúc động và tự hào về thế hệ cha anh mình. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc, đã có bao nhiêu chiến sỹ đã ngã xuống. Tên tuổi của các anh có thể được ghi trên bia mộ, cũng có thể mãi mãi là những chiến sĩ vô danh. Những bức thư hay cuốn nhật ký của họ có thể đến được tay của người thân nhưng cũng có thể vĩnh viễn năm lại trong lòng đất mẹ. Đọc những lá thư đó, tôi hình dung được những cuộc sống chiến đấu, sự cống hiến của các anh mơi chiến trường, bom đạn và hơn thế nữa tôi thấy được hơi thở của cả một thời đại. Tôi bỗng nhận ra khí phách Việt Nam trong quá khứ hào hùng và trách nhiệm của mình đối với những người đã hy sinh cho cuộc sống hôm nay.

          Nếu đến Quảng Trị, bạn hãy vào bảo tàng thành cổ, Quảng trị để tận mắt được thấy những dòng chữ của người chiến sĩ đã chiến đấu và ngã xuống tại mảnh đất Quảng Trị năm xưa và bạn hãy đến dòng sông Thạch Hãn để tự chiêm nghiêm lại mình qua bốn câu thơ:

“ Đò vào Thạch Hãn ơi, chầm chậm

Đáy sông còn đó bạn tôi nằm

Có tuổi hai mươi thành sóng nước

Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm”

Nguyễn Thị Thanh – Giáo viên


Tác giả: Nguyễn Thị Thanh-Giáo viên
Tổng số điểm của bài viết là: 1 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết